Dựa vào chức năng cần thiết, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu qua 6 loại phụ gia thường thấy trong dầu nhờn cao cấp hiện nay: 1. Phụ gia chống ô-xy hóa. Phụ gia chống ô-xy hóa thường bao gồm các hợp chất có chứa nhóm phenol hoặc nhóm amin, kẽm dialkyl dithiophosphates (ZnDDP) hay Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi ( tăng chỉ số độ nhớt) cũng như để tạo ra các loại dầu mùa 4 Các thành phần cơ bản của dầu nhớt. 4.1 1, Dầu gốc: 4.2 2, Phụ Gia; 5 Thành phần hóa học của dầu nhớt; 6 Yêu cầu chung của phụ gia dầu nhớt; 7 Một số thương hiệu dầu nhớt lớn hiện nay; 8 Các loại dầu nhớt được ưa chuộng nhất hiện nay. 8.1 Dầu nhờn Petrolimex; 8.2 2. Cách rửa sạch dầu nhớt máy móc, thiết bị. Cách 1: Ngâm các chi tiết máy có kích thước nhỏ, số lượng ít vào bể chứa hóa chất tẩy dầu nhớt chuyên dụng ở nhiệt độ thích hợp, kết hợp sục khí để tách bỏ lớp dầu nhớt trên bề mặt thiết bị. Sau đó rửa sạch Dầu xe Ga SCOOTER. VSPEED SCOOTER 4T là loại dầu nhớt đa cấp chất lượng cao chuyên dùng cho các loại xe gắn máy tay ga 4 thì hiện đại phân khối lớn, tốc độ cao. Được pha chế từ dầu gốc tinh chế và phụ gia đặc biệt nhập ngoại của Mỹ. Có bao giờ bạn thắc mắc những chỉ số ghi trên chai nhớt như: SAE, API, SL, SG, rồi 10W40,5W30,… Những thông số này có ý nghĩa gì trên chai nhớt, nó có quan ze35kAf. Các chất phụ gia có trong dầu nhớt dầu nhờn thương phẩm để sử dụng cho mục đích bôi trơn là hỗn hợp của dầu gốc và phụ gia. Do đó, chất lượng của dầu bôi trơn ngoài sự phụ thuộc rất nhiều vào dầu gốc, nó còn phụ thuộc vào phụ gia. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn. Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia * Dễ hòa tan trong dầu. * Không hoặc ít hòa tan trong nước. * Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. * Không bị phân hủy bởi nước và kim loại. * Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn. * Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn. * Hoạt tính có thể kiểm tra được. * Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm. Các chất phụ gia được trộn vào dầu nhớt + Phụ gia tăng chỉ số nhớt Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi tăng chỉ số độ nhớt cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm dạng hydrocacbon và dạng este. * Dạng hydrocacbon có các loại copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren. * Dạng ester gồm polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic. Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen có thể lên đến 10% và polyizobutylen hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%. + Phụ gia chống oxy hóa Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu tăng độ bền ôxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa * Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat ZnDDP, các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %. Ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm…. * Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt độ tương đối cao 200-300. Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn. + Phụ gia tẩy rửa Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. + Phụ gia phân tán Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm * Ankenyl-poly-amin-suxinimit. * Ankyl-hydrobenzyl-polyamin. * Este-polyhydroxy-suxinic. * Poly-aminamit-imidazolin. * Polyamine suxinimit. * Ester-photpholat. Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt chất tăng chỉ số độ nhớt nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán. + Phụ gia ức chế ăn mòn Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm di-thiophotphat kim loại đặc biệt là kẽm; sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin… + Phụ gia ức chế gỉ Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit FeOH2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%. + Phụ gia chống mài mòn Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại mài mòn dính. Sự có mặt của các hạt mài mài mòn hạt gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%. + Phụ gia biến tính, giảm ma sát Phụ gia biến tính, giảm ma sát FM có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao. Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất. Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phhụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %. + Phụ gia hạ điểm đông đặc Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng không quá 1%. + Phụ gia ức chế tạo bọt Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ. + Pha trộn dầu nhớt Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại. Thành phần dầu nhờn thương phẩm Trọng lượng, % Dầu gốc 71,5 – 96,2 Chất tẩy rửa 2 – 10 Chất phân tán không tro 1 – 9 Kẽm di-ankyl di-thiophotphat 0,5 – 3 Phụ gia chống ôxy hóa và chống mài mòn 0,1 – 2 Chất biến tính ma sát 0,1 – 3 Chất hạ điểm đông đặc 0,1 – 1,5 Chất ức chế tạo bọt 2 - 15 ppm Tùy vào từng loại sản phẩm dầu nhờn mà sẽ được thêm vào các phụ gia thích hợp. Chúng tôi là đơn vị cung cấp các giải pháp bôi trơn cho công nghiệp. Mời các bạn tham khảo qua sản phẩm dầu nhớt của chúng tôi, khi sử dụng sản phẩm của chúng tôi bạn sẽ được + Bảo hiểm cho máy móc của bạn khi có sự cố từ dầu của chúng tôi + Cam kết thu hồi hàng khi dầu của chúng tôi không giống như miêu tả + Ngoài ra còn được ưu đãi về giá từ nhà máy và miễn phí vận chuyển cho khu vực Hồ Chí Minh. Hãy đến với CÔNG TY CỔ PHẦN BEELUBE VIỆT NAM, chúng tôi là đơn vị sản xuất và chuyên cung cấp dầu nhớt công nghiệp dầu động cơ, dầu thủy lực, dầu cắt gọt kim loại, dầu truyền nhiệt, dầu bánh răng, dầu chống gỉ, nhiều loại dầu công nghiệp khác... CÔNG TY CỔ PHẦN BEELUBE VIỆT NAM Là đơn vị sản xuất và cung cấp dầu nhớt công nghiệp. Địa chỉ 1606 Nguyễn Cửu Phú, Tân Kiên, Bình Chánh, Việt Nam Điện thoại MST 0317367889 - Email daucatgotkimloai Website Khi nói đến cụm từ “phụ gia nhớt” chắc chắn các bạn sẽ thấy khá mới lạ nhưng nó lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với dầu nhớt. Vậy chất phụ gia nhớt để làm gì? Cùng Chuyện xe tìm hiểu trong bài viết sau đây nhé!Nội dung tóm tắt bài viết1 Tổng quan về chất phụ gia Chất phụ gia nhớt là gì? Chất phụ gia nhớt để làm gì?2 Các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động cơTổng quan về chất phụ gia nhớtChất phụ gia nhớt là gì?Chất phụ gia nhớt là những chất vô cơ, hữu cơ hay các nguyên tố được bổ sung vào dầu nhớt. Mặc dù chỉ chiếm hàm lượng có nhưng chất phụ gia lại khá quan trọng đối với các loại nhớt vì nó sẽ quyết định loại nhớt đó có chất lượng ra sao. Hầu hết, mỗi loại dầu nhớt sẽ có một loại phụ gia được thêm vào khác nhau. Tuy nhiên, đa phần các dầu nhớt thương phẩm đều được pha thẳng phụ gia vào. Bên cạnh đó, trên thị trường hiện nay còn xuất hiện loại phụ gia tổng hợp và được pha vào dầu chỉ khi nào cần thiết. Chất phụ gia nhớt là gì?Qua tìm hiểu, chất phụ gia nhớt chỉ đáp ứng được 1 chức năng được gọi đơn chức còn nếu đáp ứng được nhiều chức năng được gọi là đa chức. Các chất phụ gia có thể tương hỗ lẫn nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Trường hợp đầu thì không cần nói nhưng trường hợp sau thì sẽ khiến cho chất lượng dầu bị giảm do trong dầu sản sinh ra những chất phụ không tan hoặc có hại. Chính vì vậy, chất phụ gia nhớt sẽ có những yêu cầu nghiêm ngặt sau Do là chất phụ gia cho dầu nhớt nên chắc chắn chúng phải đảm bảo được yêu cầu đó là phải dễ hoà tan trong dầu. Ít hoặc không hoà tan trong dụng nhũ hoá của dầu không bị ảnh hưởngKhông khiến kim loại bị ăn mònKhông bị kim loại hay nước phân huỷ. Khi làm việc sẽ không bị bốc hơiCó thể kiểm tra được độ hoạt tínhÍt hoặc thậm chí là không phụ gia nhớt để làm gì?Chất phụ gia nhớt để làm gì?Như đã nói ở trên, chất phụ gia nhớt là những thành phần được thêm vào dầu nhớt để giúp dầu nhớt có chất lượng tốt hơn. Tuỳ từng mục đích mà chất phụ gia được thêm vào với mục đích sử dụng khác nhau như chống tạo cặn, chống rỉ sét, chống ăn mòn…Các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động cơTheo Chuyện xe tìm hiểu, các loại phụ gia sử dụng trong dầu nhớt động được phân theo chức năng. Cụ thể Phụ gia chống oxy hoáCác thành phần cấu tạo nên dầu nhớt đều khiến các chi tiết bị oxy hoá dù nhanh hay chậm. Quá trình này sẽ chịu nhiều yếu tố tác động như nồng độ, oxy, nhiệt độ… Ngoài ra, khi sử dụng, bên trong dầu nhớt luôn chứa những ion kim loại. Những ion này khiến quá trình oxy hoá diễn ra nhanh hơn. Chính vì vậy, phụ gia chống oxy hoá được thêm vào nhằm hạn chế quá trình gia cải thiện độ nhớtNhư đã nói ở trên, dầu nhớt có thể bị oxy hoá nên phụ gia giúp cải thiện độ nhớt là hoàn toàn cần thiết. Với chất phụ gia này, độ nhớt của dầu sẽ được tăng gia chống ăn mònBởi các tác nhân axit nên khi tiếp xúc với dầu nhớt, kim loại có thể bị ăn mòn. Vì vậy, nếu được thêm phụ gia chống ăn mòn, chất phụ gia này sẽ tạo một lớp màng mỏng giúp bảo vệ kim loại khỏi việc bị ăn mòn. Các loại chất phụ gia sử dụng trong dầu nhớtPhụ gia chống rỉ sétSau một thời gian sử dụng, bên trong dầu nhớt sẽ xuất hiện các tạp chất như cặn bẩn, nước… Những tạp chất này sẽ khiến các chi tiết bên trong của động cơ xuất hiện tình trạng rỉ sét. Khi phụ gia chống rỉ sét được thêm vào sẽ tạo ra một lớp màng mỏng để ngăn các tạp chất này tiếp xúc với các chi tiết. Phụ gia tẩy rửaDầu nhớt sẽ bị oxy hoá do sự hoạt động “cật lực” của động cơ. Những cặn mang tính axit được ra bởi sự oxy hoá đã khiến độ đậm đặc của dầu bị tăng lên, mất tính đồng nhất… Với việc thêm phụ gia tẩy rửa, các cặn bẩn này sẽ được hấp thu. Đồng thời, phụ gia tẩy rửa còn ngăn các cặn bẩn không thể liên kết được với nhau. Phụ gia phân tánPhụ gia phân tán sẽ có nhiệm vụ làm chậm hoặc ngăn ngừa quá trình tạo cặn, giảm sự liên kết của dầu mỗi khi ở nhiệt độ thấp. Từ đó, dầu nhớt sẽ có một loãng cần thiết để len lỏi khắp động cơ. Phụ gia chống tạo bọtMột vấn đề nan giải của dầu đó chính là sự tạo bọt. Hiện tượng này sẽ khiến dầu bị thất thoát khá nhiều. Đồng thời, việc tạo bọt này còn khiến sự oxy hoá bị tăng lên. Để khắc phục tình trạng này, phụ gia chống tạo bọt sẽ là một cách ứng cứu tuyệt hảo. Bởi chúng sẽ hấp thu những bọt được tạo ra. Được biết, phụ gia phân tán có thể tạo ra bọt nên nếu 2 chất phụ gia này thường đồng hành cùng nhau trong mỗi bình nhớt. Phụ gia chống đông đặcTheo như tìm hiểu, bên trong dầu gốc luôn chứa thành phần sáp. Mỗi khi ở nhiệt độ thấp, thành phần này sẽ tạo thành những tinh thể ngăn cản sự chảy của dầu nhớt. Phụ gia chống đông đặc sẽ có nhiệm vụ khiến quá trình kết tinh bị chậm lại. Phụ gia giảm ma sátKhi làm việc quá tải thì mảng lỏng dầu nhờn cũng sẽ bị quá tải theo. Chính điều này sẽ khiến các chi tiết kim loại bị mài mòn do quá trình ma sát. Phụ gia giảm ma sát sẽ giảm sự mài mòn và làm biến tính ma những thông tin trên, hy vọng các bạn đã hiểu rõ hơn việc chất phụ gia nhớt để làm gì và có lựa chọn đúng đắn cho mình. NPOIL Hồ Chí Minh Địa chỉ Số 14 đường DD12, Phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, TP. HCM Email salesadmin Tổng đài CSKH 0906 333 463 - 0903 783 781 Xem bản đồ đường đi NPOIL Miền Đông Địa chỉ Đ. Số 1, Suối Nghệ, Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu Email salesadmin Tổng đài CSKH 0906 333 463 - 0903 783 781 Xem bản đồ đường đi NPOIL Miền Tây Địa chỉ Email salesadmin Tổng đài CSKH 0906 926 566 - 0903 783 781 Xem bản đồ đường đi NPOIL Miền Bắc Địa chỉ 66 Vành Đai 3, Phường Yên Sở, Quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội Email phanhien03 Tổng đài CSKH 0902 972 971 - 0906 966 219 Xem bản đồ đường đi NPOIL Miền Trung Địa chỉ 148 Tôn Đức Thắng, P. Hoà Minh, Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Email salesadmin Tổng đài CSKH 0901 427 327 - 0903 783 781 Xem bản đồ đường đi NPOIL Nam Miền Trung - Tây Nguyên Địa chỉ Email salesadmin Tổng đài CSKH 0938 330 439 - 0903 783 781 Xem bản đồ đường đi Nhà máy sản xuất Địa chỉ 84/6M, Ấp 4, xã Xuân Thới Sơn, Huyện Hóc Môn, TP. HCM Email salesadmin Tổng đài CSKH 0906 946 370 Xem bản đồ đường đi CÔNG TY CỔ PHẦN NPOIL Địa chỉ Số 14 đường DD12, Phường Tân Hưng Thuận, Quận 12, Điện thoại 0906 966 219 - 0903 783 781 - 0931 327 836 0938 50 30 30 - 0938 778 355 - 0906 946 370 Tổng đài CSKH 028 54 270 270 - 1900 75 75 25 Email salesadmin MST 0311530345 Mạng xã hội © Copyright 2023 by CÔNG TY CỔ PHẦN NPOIL – All rights reserved. Dầu nhớt cho động cơ là vô cùng quan trọng, điều này anh em nào chơi xem – thậm chí là không, cũng biết. Dầu giúp bôi trơn và làm mát, làm sạch hợp chất không cần thiết trong xe. Tuy nhiên bên trong thành phẩm dầu nhớt không chỉ có mỗi dầu gốc, mà còn được bổ sung rất nhiều loại phụ gia nhớt giúp tăng tính năng và tối ưu hiệu quả của loại dầu bạn sử dụng. Trên thị trường rất đa dạng phụ gia nhớt cho cả xe hơi và xe máy Phụ gia cho dầu nhớt các thành phần hợp chất được bổ sung thêm vào dầu nhớt nhằm nâng cao tính chất riêng biệt vốn có của dầu gốc để thu được dầu nhớt có phẩm chất tốt hơn. Có thể hiểu, trong khi dầu nhớt có thể giúp bôi trơn, làm mát bảo vệ động cơ xe thì phụ gia xe máy và ô tô bảo vệ, tăng cao hoạt tính cho dầu nhớt gốc. Lượng phụ gia được bổ sung trong thành phẩm phụ thuộc và tính chất và nhu cầu mà gia giảm có thể từ một phần triệu đến 10 – 20%. Đối với các loại dầu thương phẩm hiện tại trên thị trường, phụ gia có thể được pha thẳng vào loại dầu gốc hoặc được đóng gói riêng, chỉ được pha vào dầu nhớt khi bắt đầu sử dụng. Có sự khác nhau giữa dòng phụ gia nhớt xe máy và xe hơi phổ thông, thậm chí mỗi dòng xe máy cũng có yêu cầu phụ gia riêng, ô tô cũng tương tự. Trong khi nhớt và phụ gia cho xe máy có thể dễ dàng mua và thay thế, sử dụng, thì đối với xe hơi, xế hộp đắt tiền thì các dòng sản phẩm này cũng có nhiều yêu cầu gắt gao và kĩ lưỡng hơn. Cần quan tâm đến phụ gia nhớt cho xe để tăng tuổi thọ động cơ “Thế giới” phụ gia nhớt xe ô tô đa dạng hơn rất nhiều so với xe máy. Bởi vì có thể hiểu đơn giản là động cơ của xe hơi nhiều hơn, lớn hơn, nhu cầu và tính năng của từng thành phần đa dạng và công năng của chúng cũng phức tạp. Vậy nên nếu muốn mua phụ gia cho “bé hộp”, bạn cần nghiên cứu cẩn thận và được tư vấn trước khi chi tiền. Tất nhiên, dù là loại phụ gia cho nhớt xe máy hay bất kì dòng xe nào cũng cần tìm hiểu và lựa chọn đơn vị cung cấp uy tín. Bạn có thể tin tưởng và trở thành khách hàng của Huỳnh Châu – bởi chúng tôi là đơn vị phân phối độc quyền các dòng nhớt và phụ gia nhớt chính hãng được đánh giá cao trên thị trường. —- Dầu nhớt Huỳnh Châu – Nhà nhập khẩu & phân phối dầu nhớt chính hãng, uy tín hàng đầu Việt Nam. Là đơn vị nhập khẩu và phân phối chính thức của Repsol tại thị trường Việt Nam, dầu nhớt Huỳnh Châu mang đến các sản phẩm với đầy đủ giấy tờ pháp lý chứng minh nguồn gốc hàng hóa được Repsol uỷ nhiệm. Chính vì vậy, quý khách hàng có thể an tâm tuyệt đối khi mua dầu nhớt Repsol từ chúng tôi! Liên hệ ngay với Huỳnh Châu để được tư vấn chi tiết về sản phẩm, chính sách đại lý và các chương trình khuyến mãi hấp dẫn chưa từng có NHÀ NHẬP KHẨU VÀ PHÂN PHỐI DẦU NHỚT HUỲNH CHÂU Website Email daunhothuynhchau Hotline 090 831 5193 – 090 214 0906 – 0283 974 8423 – 0283 860 3655 Địa chỉ 32 Ni Sư Huỳnh Liên, Bình, TP Hồ Chí Minh Cùng với khả năng vận hành ngày càng cao thì động cơ xe hơi hiện đại cũng có những điều kiện khắc khe hơn về khả năng làm mát, bôi trơn, chống mài mòn. Đây là điều mà các loại dầu nhớt truyền thống không có khả năng đáp ứng được. Bắt buộc nhà sản xuất dầu nhớt không ngừng cải tiến, nâng cao khả năng tương thích với yêu cầu khắc nghiệt trong việc vận hành động cơ. Do đó, việc bổ sung thêm các chất phụ gia dầu nhớt là phương thức phổ biến, hiệu quả nhằm nâng cao chỉ số vật lý, hóa học. Phụ gia chính là chất hữu cơ, cơ kim, vô cơ hay các loại nguyên tố. Chúng thường được bổ sung thêm vào dầu nhớt nhằm nâng cao tính chất riêng biệt vốn có của dầu gốc để thu được dầu nhớt có phẩm chất tốt hơn. Thỏa mãn được các yêu cầu đối với từng mục đích sử dụng khác nhau. Ở mỗi loại phụ gia được sử dụng với nồng độ từ đến 5%. Trong một số trường hợp chất phụ gia có thể được sử dụng ở nồng độ từ vài phần triệu đến trên 10%. Phần lớn các loại dầu nhớt sẽ cần đến rất nhiều phụ gia khác nhau. Nhằm thỏa mãn được tất cả các yêu cầu về tính năng hoạt động. Đối với các loại dầu thương phẩm phụ gia sẽ được pha thẳng vào loại dầu gốc. Trong các sản phẩm đặc biệt thì phụ gia tổng hợp được đóng gói riêng, chỉ được pha vào dầu nhớt khi sử dụng. Bên cạnh đó, Phụ gia có loại chỉ đáp ứng một chức năng gọi là “đơn chức”. Loại mà đảm nhận nhiều chức năng khác nhau thì gọi là phụ gia “đa chức”. Các loại phụ gia khác nhau sẽ hỗ trợ lẫn nhau gây nên hiệu ứng tương hỗ, đối kháng. Trường hợp sau có thể làm giảm hiệu quả các chất phụ gia. Tạo ra sản phẩm phụ gia không tan hoặc có hại. Những tương tác này hầu hết do các chất phụ gia đều là hóa chất hoạt động cho nên chúng tác động qua lại lẫn nhau trong phụ gia đóng gói hoặc dầu để tạo ra chất mới. Các chất phụ gia dầu nhớt được sử dụng rất phổ biến hiện nay Yêu cầu chung của phụ gia dầu nhớt Đối với các loại phụ gia dầu nhớt sẽ có những yêu cầu chung cần đáp ứng như sau Dễ hòa tan vào trong dầu nhớt Không gây nên hiện tượng ăn mòn trên các bề mặt kim loại Không bị bốc hơi trong điều kiện làm việc. Không hoặc ít bị hòa tan trong nước Hoạt tính có thể kiểm tra được. Không bị phân hủy bởi nước và các chất kim loại Không làm tăng tính chất hút ẩm của dầu Không bị ảnh hưởng đến tác dụng nhũ hóa của dầu Không chứa độc hoặc ít độc, dễ kiếm, giá thành rẻ. Phụ gia dầu nhớt bao gồm những hợp chất nào? Đối với dầu nhớt của xe hơi thông thường sẽ bao gồm một số loại phụ gia khác nhau. Ở mỗi loại thường đảm nhận một số vai trò đặc biệt. Nhưng phổ biến nhất vẫn phải kể đến. Phụ gia cải thiện chỉ số độ nhớt Trong quá trình sử dụng dầu nhớt có thể bị oxy hóa làm cho tính nhớt nhiệt giảm. Do khoảng nhiệt độ bên trong động cơ thay đổi khá lớn giữa khi bắt đầu hoạt động và khi hoạt động ở hiệu suất lớn. Cho nên đa số dầu nhớt cần phải có phụ gia nhằm ổn định chỉ số độ nhớt. Đối với chất phụ gia này thường có tác dụng làm tăng độ nhớt của dầu trong bền nhiệt độ cao. Hầu như không làm tăng độ nhớt của dầu trong nhiệt độ thấp. Các chất phụ gia dầu nhớt mang đến tác dụng tuyệt vời Phụ gia chống oxy hóa dầu Hầu hết các hợp chất của dầu nhớt đều có khả năng nhanh hoặc chậm với oxy để tạo thành quá trình oxy hóa. Tốc độ quá trình oxy hóa chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như bản chất của dầu nhớt, nhiệt độ, nồng độ oxy hóa hay hiệu ứng xúc tác của kim loại. Trong khi sử dụng bên trong dầu nhớt luôn có mặt các ion kim loại chúng đóng vai trò xúc tác đẩy nhanh quá trình oxy hóa dầu. Song song với quá trình oxy hóa dầu luôn xảy tra quá trình polymer hóa các hợp chất trung gian tạo ra cặn bùn trong dầu. Dựa vào cơ chế phản ứng oxy hóa nhà sản xuất bổ sung thêm chất chống oxy hóa theo cơ chế gốc, chống oxy hóa phân hủy. Phụ gia ức chế gỉ Sau một thời gian làm việc dầu nhớt bên trong động cơ có thể bị lẫn các tạp chất như cặn bẩn, nước… Chúng gây gỉ sét cho bề mặt chi tiết bên trong động cơ. Chất ức chế gỉ này còn có tác dụng như một lớp màng ngăn nước tiếp xúc trực tiếp cùng với bề mặt kim loại. Phụ gia ức chế ăn mòn Trong quá trình làm việc các bề mặt kim loại sẽ tiếp xúc cùng với dầu nhớt. Cho nên rất dễ bị ăn mòn bởi tác nhân có tính axit. Do đó, phụ gia dầu nhớt gây ức chế ăn mòn phủ lên bề mặt kim loại thêm lớp màng bảo vệ. Đối với lớp màng này thường sẽ bám chặt lên trên bề mặt kim loại. Nhằm bảo vệ kim loại khỏi các tác nhân gây ăn mòn. Phụ gia giảm điểm đông đặc Do dầu gốc khoáng có chứa sáp nên khi nhiệt độ thấp sáp sẽ kết tinh thành các tinh thể kiểu lưới mắt cáo, ngăn sự chảy của dầu. Cho nên, phụ gia dầu nhớt này có nhiệm vụ làm giảm độ đông đặc của dầu thông qua việc làm chậm quá trình kết tinh sáp. Chúng thường kết hợp với tinh thể sáp tạo thành tinh thể nhỏ hơn. Nhằm làm giảm thiểu khả năng gây cản trở sự chảy của dầu. Các chất phụ gia dầu nhớt cải thiện được các vấn đề trong hệ thống động cơ Phụ gia dầu nhớt với tính tẩy rửa Quá trình hoạt động khắc nghiệt của động cơ khiến dầu bị oxy hóa mạnh. Đây cũng là nguyên nhân tạo ra lượng lớn cặn bẩn và các chất axit. Chúng làm tăng độ đặc của dầu nhớt,, gây ăn mòn và khiến dầu mát đi tính đồng nhất. Làm lắng đọng trên bề mặt kim loại gây nên hao tổn công suất động cơ. Phụ gia tẩy rửa trong dầu nhớt có khả năng hấp thụ cặn bẩn, lôi cặn bẩn ra khỏi bề mặt mà chúng bám dính. Phân tán cặn bẩn để chúng không thể liên kết lại với nhau, giữ chúng lơ lửng trong các khối dầu nhớt. Phụ gia phân tán Đây là các chất ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn, lắng đọng, trong điều kiện hoạt động nhiệt độ thấp. Nhiệm vụ chính của chất phân tán vẫn là làm giảm sự liên kết của dầu ở nhiệt độ thấp. Giúp dầu có được độ loãng cần thiết để mau chóng phân tán tới mọi vị trí động cơ khi bắt đầu khởi động. Phụ gia ức chế tạo bọt Hiện tượng tạo bọt làm cho dầu bị thất thoát đi nhiều. Gây khó khăn cho việc vận hành hệ thống bôi trơn, cản trở sự lưu thông tuần hoàn dầu. Sự tạo bọt mạnh làm tăng sự oxy hóa dầu do không khó được trộn nhiều vào dầu nhớt. Việc chống tạo bọt dầu nhớt phụ thuộc vào bản chất dầu thô. cách chế biến, độ nhớt của dầu. Việc khắc phục nhược điểm này được các nhà sản xuất áp dụng. Được thông qua bằng việc bổ sung thêm lượng nhỏ các chất phụ gia chống tạo bọt. Hấp thụ lên bọt làm giảm đi sức căng bề mặt của bọt. Các khối bọt tụ lại với nhau tạo thành bọt lớn, nổi lên bề mặt. Hoặc vỡ ra làm thoát không khí ra bên ngoài. Các chất phụ gia dầu nhớt phù hợp với nhiều dòng ô tô khác nhau Phụ gia biến tính giảm ma sát Trong các điều kiện làm việc trở nên khắc nghiệt hơn. Lúc này các tấm màng lỏng dầu nhớt sẽ không thể hoàn toàn gánh chịu được tải trọng đè lên. Điểm nhô lên trên bề mặt kim loại cũng chịu sự mài mòn, ma sát lớn hơn nên dễ bị hư hại. Cho nên các phụ gia ma sát được biết đến như nhóm chất quan trọng. Chúng thường được pha vào hầu hết dầu bôi trơn. Đặc biệt, là đối với dầu bánh răng, dầu động cơ. Chúng thường có chức năng biến tính ma sát và làm giảm đi sự mài mòn, chịu tải trọng cao. Trên đây là một số thông tin chính về chất phụ gia dầu nhớt, để các bạn cùng theo dõi. Vậy nếu bạn đang muốn mua các chất phụ gia chất lượng hãy đến ngay với Tam Son Shop. Đây là đơn vị chuyên cung cấp các chất phụ gia công nghiệp đến từ các thương hiệu lớn trên thế giới. Khi mua hàng tại đây còn nhận được sự tư vấn tận tình của đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao giúp lựa chọn ra các sản phẩm phù hợp với xế yêu. Dầu nhờn thương phẩm để sử dụng cho mục đích bôi trơn là hỗn hợp của dầu gốc và phụ gia. Do đó, chất lượng của dầu bôi trơn ngoài sự phụ thuộc rất nhiều vào dầu gốc, nó còn phụ thuộc vào phụ gia. Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn. Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn. Yêu cầu chung của một loại phụ gia * Dễ hòa tan trong dầu. * Không hoặc ít hòa tan trong nước. * Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu. * Không bị phân hủy bởi nước và kim loại. * Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn. * Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn. * Hoạt tính có thể kiểm tra được. * Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm. Các chất phụ gia được trộn vào dầu nhớt + Phụ gia tăng chỉ số nhớt Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi tăng chỉ số độ nhớt cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm dạng hydrocacbon và dạng este. * Dạng hydrocacbon có các loại copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren. * Dạng ester gồm polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic. Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen có thể lên đến 10% và polyizobutylen hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%. + Phụ gia chống oxy hóa Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu tăng độ bền ôxy hóa, khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa * Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat ZnDDP, các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %. C, ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm….°* Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt độ tương đối cao 200-300 Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn. + Phụ gia tẩy rửa Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canxi hoặc magiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. + Phụ gia phân tán Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm * Ankenyl-poly-amin-suxinimit. * Ankyl-hydrobenzyl-polyamin. * Este-polyhydroxy-suxinic. * Poly-aminamit-imidazolin. * Polyamine suxinimit. * Ester-photpholat. Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt chất tăng chỉ số độ nhớt nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán. + Phụ gia ức chế ăn mòn Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm di-thiophotphat kim loại đặc biệt là kẽm; sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin… + Phụ gia ức chế gỉ Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit FeOH2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%. + Phụ gia chống mài mòn Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại mài mòn dính. Sự có mặt của các hạt mài mài mòn hạt gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%. + Phụ gia biến tính, giảm ma sát Phụ gia biến tính, giảm ma sát FM có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao. Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất. Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phhụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %. + Phụ gia hạ điểm đông đặc Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng không quá 1%. + Phụ gia ức chế tạo bọt Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ. + Pha trộn dầu nhớt Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại. Thành phần dầu nhờn thương phẩm Trọng lượng, % Dầu gốc 71,5 – 96,2 Chất tẩy rửa 2 – 10 Chất phân tán không tro 1 – 9 Kẽm di-ankyl di-thiophotphat 0,5 – 3 Phụ gia chống ôxy hóa và chống mài mòn 0,1 – 2 Chất biến tính ma sát 0,1 – 3 Chất hạ điểm đông đặc 0,1 – 1,5 Chất ức chế tạo bọt 2 - 15 ppm Nguồn ST

các loại phụ gia dầu nhớt